Logo
Header

Email: t4gdongnai@gmail.com

Nghiên cứu độc tính và đánh giá tác dụng điều hòa rối loạn lipid máu từ dịch chiết lá chùm ngây trên thực nghiệm

Cập nhật: 12.05.2016 08:49 - Lượt xem: 1,079

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Chùm ngây có nhiều tên gọi khác là Thần diệu, Độ sinh, Vạn năng, chứa khá nhiều chất dinh dưỡng như: Vitamin C, β-caroten, protein, acid amin… và nhiều hợp chất có tác dụng sinh học: zeatin, flavonoid (quercetin, kaempferol…), α-sitostrol, acid caffeoylquinic, niazirinin, niaziminin A và B, benzyl isothiocyanat…. Do vậy, Chùm ngây đã được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng trong dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm tại nhiều quốc gia trên thế giới như: Ấn Độ, Pakistan, Ghana, Malaysia, Thái Lan.

Để khai thác tiềm năng của thảo dược này, cần có những nghiên cứu hệ thống về hóa thực vật, dược lý thực nghiệm, bào chế, dược lý lâm sàng để tạo nên những chế phẩm hữu dụng trong phòng ngừa và hỗ trợ điều trị những bệnh lý mạn tính như: rối loạn lipid máu, đái tháo đường, viêm gan mạn, viêm thận mạn, ung thư…, đặc biệt là những bệnh lý do stress oxy hóa. Khai thác Chùm ngây để làm nguyên liệu chế tạo thành phẩm đông dược không chỉ có ý nghĩa về mặt y tế mà còn góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp địa phương, tạo thu nhập ổn định cho nông dân.

Chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu một chế phẩm có tác dụng điều hòa rối loạn lipid máu để ứng dụng rộng rãi cộng đồng và góp phần nâng cao giá trị của loại cây này với mục tiêu sau:

- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu bào chế một chế phẩm có tác dụng điều hòa rối loạn lipid máu từ lá cây Chùm ngây trồng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

- Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu tác dụng điều hòa lipid máu của dịch chiết lá Chùm ngây trên mô hình chuột nhắt trắng rối loạn lipid máu. Đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn của dịch chiết lá Chùm ngây trên chuột nhắt trắng.

II. PHƯƠNG TIỆN - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Phương tiện nghiên cứu 

Dược liệu: Lá Chùm ngây tươi thu hái tại xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cữu, tỉnh Đồng Nai (tháng 5 – 8/2014).  Mẫu sử dụng bao gồm cả cuống lá và lá chét còn tươi. Phơi sấy khô.

Hóa chất: Tyloxapol (triton WR-1339) – Sigma/Merk, atorvastatin - AMN Life Science (Ấn Độ), thuốc thử định lượng lipid máu của Maxmat (Pháp), Mindray (Trung Quốc). 

Dụng cụ: Máy sinh hóa Hemaxa 1000, dụng cụ nuôi và chăm sóc chuột, cân phân tích, cân sấy ẩm hồng ngoại, tủ sấy, tủ vi khí hậu, máy đóng nang, máy trộn siêu tốc, máy xét nghiệm huyết học…

Súc vật thử nghiệm: Chuột nhắt trắng đực chủng Swiss albino trọng lượng từ 18 – 22g, khỏe mạnh được cung cấp bởi Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh. Trong suốt quá trình thử nghiệm, chuột được nuôi trong điều kiện ổn định về dinh dưỡng (thực phẩm viên, giá sống, nước uống tự do), chế độ chiếu sáng tự nhiên.

2. Phương pháp nghiên cứu

-  Chiết xuất cao Chùm ngây: Cao chiết phải đạt yêu cầu độ ẩm của cao đặc: ≤ 20%.

- Đánh giá độc tính cấp của cao Chùm ngây: Thể tích cho uống trong thử nghiệm là 20 ml/kg thể trọng chuột và không quá 0,5 ml/chuột.

Chuột nhắt chia thành các lô tương tự, những chuột ở cùng một lô sẽ nhận cùng một liều chất khảo sát. Sự đánh giá dựa vào phản ứng toàn ứng hay bất ứng (sống hay chết) nhận thấy ở mỗi chuột trong nhóm sau 72 giờ. Chuột được tiếp tục theo dõi sau 14 ngày uống để ghi nhận những triệu chứng bất thường (nếu có). 

- Đánh giá độc tính bán trường diễn của cao Chùm ngây: Thể tích cho uống trong thử nghiệm là 10 ml/kg thể trọng chuột, một lần duy nhất trong ngày. 

Chia ngẫu nhiên động vật thử nghiệm thành 3 lô, mỗi lô 10 con, cho uống vào lúc 8 – 9 giờ sáng, liên tục 60 ngày. Thể tích cho uống trong thử nghiệm là 10 ml/kg thể trọng chuột, một lần duy nhất trong ngày.

- Đánh giá tác dụng điều hòa lipid trên chuột nhắt tăng lipid nội sinh: Thể tích cho uống trong thử nghiệm là 10 ml/kg thể trọng chuột. Chuột thí nghiệm được cho uống nước cất, atorvastatin và cao Chùm ngây trong vòng 2 tuần trước thí nghiệm vào thời điểm 14-15 giờ hàng ngày với thể tích 0,1 ml/10g.

Sau khi nuôi ổn định chuột thử nghiệm 1 tuần, tiến hành chia ngẫu nhiên chuột thử nghiệm thành 6 lô (n=10). Tiến hành cân, kiểm tra trọng lượng chuột ở tất cả các lô trước và trong giai đoạn thử nghiệm 2 ngày 1 lần.

- Đánh giá tác dụng điều hòa lipid trên chuột nhắt tăng lipid ngoại sinh: Thể tích cho uống trong thử nghiệm là 10 ml/kg thể trọng chuột. Thời điểm uống thuốc: Sáng 8-9 giờ, chiều 14-15 giờ; uống trong vòng 8 tuần. 

Cân, kiểm tra trọng lượng chuột các lô trước, trong giai đoạn thử nghiệm 2 ngày 1 lần. 

3. Phương pháp xử lý thống kê kết quả thực nghiệm

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để tính giá trị trung bình các số liệu thực nghiệm. 

Dữ liệu được trình bày dưới dạng số trung bình (Mean) ± SEM. Sự khác biệt giữa các lô được phân tích bằng chương trình MS Exell, P<0,05 được cho là có ý nghĩa thống kê.

III. KẾT QUẢ:

1. Hiệu suất chiết cao Chùm ngây  

Bảng 1: Độ ẩm của lá Chùm ngây 

Lần

Độ ẩm (%)

Trung bình (%)

1

11,30

11,73

2

11,86

3

12,03

Bảng 2: Độ ẩm của cao Chùm ngây

Lần

Độ ẩm (%)

Trung bình (%)

1

18,35

17,98

2

17,71

3

17,89

Từ bảng 1 và bảng 2, tính được hiệu suất chiết cao Chùm ngây:

- Khối lượng dược liệu ban đầu: 5 kg  (độ ẩm11,73%)

- Khối lượng cao: 2,010 kg (độ ẩm 17,98 %)

- Hiệu suất chiết:  2010 (g) x (100% – 17,98%) / 5000 (g) x (100% – 11,73%) = 37,35%

Từ 5 kg dược liệu ban đầu đã tiến hành chiết xuất bằng dung môi nước, thu được 2,010 kg cao đặc Chùm ngây. Hiệu suất chiết  37,35 %.

2. Độc tính cấp cao Chùm ngây

Bảng 3: Tỷ lệ chuột chết  sau khi uống của cao Chùm ngây 

Liều dùng (g cao/kg)

Số chuột thử (n)

Số chuột chết (r)

Tỷ lệ % chết

10

6

0

0

20

6

0

0

30

10

0

0

37

10

0

0

3. Độc tính bán trường diễn

Bảng 4: Kết quả khảo sát độc tính bán trường diễn đường uống của cao Chùm ngây

Chỉ số

Đơn vị

Lô uống nước cất

Lô thử 1 (3,7 g/kg)

Lô thử 2 (7,4 g/kg)

HUYẾT HỌC

 

 

Mean

SD

SEM

Mean

SD

SEM

Mean

SD

SEM

WBC

10^9/L

12,46

3,50

1,11

15,27

1,69

0,54

13,64

3,21

1,01

RBC

10^12/L

8,79

0,49

0,16

9,45

0,51

0,16

9,31

0,52

0,16

HGB

g/dL

18,08

1,71

0,54

21,06

0,01

0,00

21,04

0,01

0,00

Hct

 

0,54

0,02

0,01

0,57

3,45

1,09

0,55

3,21

1,02

MCV

fL

61,61

2,50

0,79

60,57

1,18

0,37

60,25

1,88

0,60

MCH

pg

20,31

1,36

0,43

22,91

0,71

0,22

22,82

0,91

0,29

MCHC

g/dL

33,22

2,29

0,72

37,81

0,77

0,24

37,58

1,08

0,34

PLT

10^9/L

1232,30

178,07

56,31

1098,80

103,21

32,64

1195,24

433,33

137,03

Lym

%

69,49

7,39

2,34

72,56

4,26

1,35

73,40

6,29

1,99

Lym #

10^9/L

8,66

2,43

0,77

10,7

2,04

0,64

9,91

2,94

0,93

RDW

fL

37,98

3,23

1,02

35,85

1,40

0,44

35,69

1,28

0,40

SINH HÓA

SGOT

U/L

114,16

42,16

13,33

137,46

31,96

10,11

108,92

24,36

7,70

SGPT

U/L

53,20

16,27

5,14

57,70

12,23

3,87

52,20

10,79

3,41

Cre

mg/100 ml

1,02

0,16

0,05

1,04

0,13

0,04

1,17

0,39

0,12

TRỌNG LƯỢNG CHUỘT

Trước TN

g

21,70

2,36

0,75

21,30

1,64

0,52

20,90

2,33

0,74

Cuối TN

g

38,70

4,60

1,45

34,80

4,42

1,40

34,60

4,17

1,32

4. Tác dụng của cao Chùm ngây trên chuột nhắt tăng cholesterol nội sinh

Bảng 5: Nồng độ cholesterol, triglycerid, HDL của chuột nhắt trên chuột nhắt tăng lipid máu nội sinh

Thể trọng trước TN

Thể trọng cuối TN

Cholesterol

Triglycerid

HDL-Choles

LDL-Choles

Nước cất

21,40

30,30

2,81

1,55

1,33

0,78

SD

1,65

2,45

0,29

0,53

0,58

0,59

SEM

0,52

0,78

0,09

0,17

0,18

0,19

Bệnh lý

21,80

29,30

13,91

12,72

0,63

7,50

SD

2,35

3,47

1,87

1,40

0,37

2,19

SEM

0,74

1,10

0,59

0,44

0,12

0,69

CN 1,85 g/kg

22,80

29,90

12,27

12,66

2,18

4,33

SD

2,82

1,97

1,42

1,28

0,96

1,30

SEM

0,89

0,62

0,45

0,41

0,30

0,41

CN 3,7 g/kg

21,50

28,70

11,59

13,89

1,1

4,18

SD

1,18

3,53

1,46

0,55

0,55

1,78

SEM

0,37

1,12

0,46

0,17

0,18

0,56

CN 7,4 g/kg

21,90

26,90

12,98

12,49

1,69

5,61

SD

1,45

4,91

2,29

1,61

0,81

2,06

SEM

0,46

1,55

0,72

0,51

0,26

0,65

Ator 10 mg/kg

22,60

29,80

11,96

13,50

1,72

4,09

SD

1,43

1,75

1,41

0,43

1,13

1,26

SEM

0,45

0,55

0,45

0,14

0,36

0,40

5. Tác dụng của cao Chùm ngây trên chuột nhắt tăng cholesterol ngoại sinh

Bảng 6: Nồng độ cholesterol, triglycerid, HDL, LDL của chuột nhắt tăng lipid máu ngoại sinh.

Thể trọng trước TN

Thể trọng cuối TN

Cholesterol

Triglycerid

HDL-Choles

LDL-Choles

Nước cất

20,80

38,40

2,83

1,57

1,74

0,31

SD

1,58

4,40

0,42

0,55

0,33

0,26

SEM

0,50

1,39

0,13

0,17

0,10

0,08

Bệnh lý

19,50

34,20

5,77

3,2

1,48

2,69

SD

1,27

2,82

1,75

0,60

0,29

1,75

SEM

0,40

0,89

0,55

0,19

0,09

0,55

CN 1,85 g/kg

20,30

38,20

4,13

0,85

2,03

1,68

SD

1,64

3,68

0,60

0,20

0,24

0,59

SEM

0,52

1,16

0,19

0,06

0,08

0,19

CN 3,7 g/kg

19,50

35,40

4,45

0,76

1,72

2,35

SD

1,27

5,06

1,52

0,24

0,24

1,62

SEM

0,40

1,60

0,48

0,08

0,08

0,51

CN 7,4 g/kg

19,60

34,00

4,67

0,71

1,84

2,48

SD

1,35

5,12

1,83

0,22

0,60

1,46

SEM

0,43

1,62

0,58

0,07

0,19

0,46

Ator 10 mg/kg

20,00

34,00

3,33

1,63

2,05

0,50

SD

1,76

2,79

0,59

0,41

0,29

0,33

SEM

0,56

0,88

0,19

0,13

0,09

0,11

IV. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Hiệu suất chiết cao đặc từ lá Chùm ngây là 37,35 % (quy mô 5 kg lá khô/lần)

Đã xác định liều Dmax đường uống của cao chiết lá Chùm ngây là: 37 g cao/kg thể trọng chuột (tương đương 99,06 g dược liệu).
Cao nước Chùm ngây cho uống ở mức liều 3,7 g/kg và 7,4 g/kg trong vòng 2 tháng (60 ngày) làm tăng số lượng hồng cầu và hemoglobin (p<0,05), nhưng không làm thay đổi chức năng gan, thận, cân nặng, hành vi... của chuột thử nghiệm (so với nhóm chứng).

Cao chiết nước lá Chùm ngây có tác dụng điều hòa rối loạn lipid máu trên chuột nhắt trắng tăng cholesrterol nội sinh ở liều 1,85 g/kg và 3,7 g/kg. Riêng liều 7,4 g/kg chỉ làm tăng HDL (p0,01).

Cao Chùm ngây có tác dụng điều hòa rối loạn lipid máu trên chuột nhắt trắng tăng cholesrterol ngoại sinh liều 1,85 g/kg. Với liều 3,7 g/kg và 7,4 g/kg chỉ làm giảm triglycerid (p<0,001).

2. Kiến nghị 

Nghiên cứu này sẽ được sử dụng làm tiền đề cho việc nghiên cứu ra một chế phẩm ứng dụng trong điều trị rối loạn lipid máu từ lá Chùm ngây trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng như trong cả nước.

Qua đó, góp phần phát triển nguồn dược liệu trong nước theo chiến lược phát triển chung của ngành y tế Việt Nam. Củng cố, chứng minh tính đúng đắn của chính sách Đảng và Nhà nước về gìn giữ và phát huy nền y dược học dân tộc, kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong điều trị cũng như hiện đại hóa nền y học cổ truyền.

Bác sĩ: Nguyễn Thị Thu Hằng, Phạm Văn Long và cộng sự
Bệnh viện Y Dược cổ truyền Đồng Nai 
 

Bài viết liên quan