Logo
Header

Email: t4gdongnai@gmail.com

Khảo sát nồng độ procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn

Cập nhật: 24.11.2016 04:31 - Lượt xem: 868

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

 Bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn huyết đang là vấn đề y học được thế giới quan tâm vì tỉ lệ tử vong cao, triệu chứng lâm sàng đa dạng, đôi khi không điển hình. Chẩn đoán xác định dựa vào cấy máu, nhưng kết quả cấy máu thì chậm và không phải lúc nào cũng dương tính, trong khi đó bệnh diễn tiến nhanh có thể gây sốc nhiễm trùng, suy đa cơ quan và tử vong.  

Hiện nay, vấn đề đặt ra trong chẩn đoán nhiễm khuẩn đúng và phân biệt được với các bệnh do vi rút quan trọng nhất là sốt xuất huyết dengue (SXH). Trong sử  dụng kháng sinh làm thế nào biết được kháng sinh có đáp ứng hay không trong thời gian sớm nhất trước khi có những dấu hiệu đáp ứng lâm sàng để có thể điều chỉnh kháng sinh nhanh nhất. Hiện có nhiều chỉ số để chẩn đoán phân biệt giữa hội chứng nhiễm khuẩn toàn thân và hội chứng đáp ứng viêm do nguyên nhân khác, một trong các chỉ số đó là Procalcitonin (PCT). Để đánh giá đầy đủ vai trò của PCT trong chẩn đoán cũng như theo dõi đáp ứng điều trị kháng sinh (KS) trong nhiễm khuẩn huyết, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này. 

Mục tiêu cụ thể đề tài:  

1. Xác định nồng độ PCT ở 3 nhóm bệnh nhân (BN) không nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn cục bộ và nhiễm khuẩn huyết. 

2. Xác định  mối liên quan nồng  độ  PCT giữa 3 nhóm bệnh lý trên.

3. Mô tả sự thay đổi PCT với diễn biến lâm sàng trong bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết . 

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt ca. 

2. Dân số mục tiêu: Bệnh nhân có sốt nghi ngờ sốt do siêu vi hay sốt do nhiễm khuẩn nhập vào khoa Bệnh nhiệt đới của Bệnh viện ĐK Thống Nhất (Đồng Nai) từ tháng 3-2015 đến tháng 10-2015.

3. Dân số chọn mẫu: Các bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn cục bộ (viêm phổi, nhiễm khuẩn tiểu...); nhóm bệnh nhân nhiễm khuẩn toàn thân (nhiễm khuẩn huyết, choáng nhiễm khuẩn…); nhóm chứng là các bệnh nhân nhiễm siêu vi, SXH. 

Tiêu chuẩn loại trừ: BN HIV/AIDS, các BN ung thư, chấn thương…

 -Bệnh nặng như nhồi máu cơ tim, xơ gan, suy thận mạn giai đoạn cuối.

4. Phương pháp nghiên cứu: Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê  SPSS 22.0…

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sơ đồ 3.1. Phân bố BN theo nhóm nghiên cứu



1. Nồng độ procalcitonin  (PCT) Ở 3 nhóm  bệnh lý không nhiễm khuẩn , nhiễm khuẩn cục bộ và nhiễm trùng huyết:

1.1. Nồng độ PCT trước điều trị KS ở 3 nhóm nghiên cứu:

NHÓM

Tần số

X TB PCT ( ng/ml )

P

Không nhiễm khuẩn

87

0,1 ± 0,14

 

0,001 *

Nhiễm khuẩn cục bộ

89

2.8 ± 11,7

Nhiễm khuẩn huyết

74

16.5 ± 25,8


 * Kiểm định Kruskal-Wallis Test (do biến số không có phân phối chuẩn, phương sai không đồng nhất).

Nhận xét: Nồng độ PCT ở 3 nhóm nghiên cứu khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05.

1.2 Nồng độ PCT sau điều trị KS 3 ngày ở 3 nhóm nghiên cứu: 

             NHÓM

      Tần số

PCT

P

Không nhiễm khuẩn

         03

0,2 ± 0,2

 Nhiễm khuẩn cục bộ

         34

0,5 ± 1,7

0,016 *

 Nhiễm khuẩn huyết

         60

1,1 ±  6,7

* Kiểm định Mann - Whitney test (do biến không có phân phối chuẩn, phương sai không đồng nhất).

Nồng độ PCT ở 3 nhóm nghiên cứu sau điều trị kháng sinh 3 ngày khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

2. Mối liên quan nồng độ PCT ở 3 nhóm bệnh lý

2.1. Mối liên quan nồng độ PCT trước điều trị KS ở 2 nhóm nghiên cứu 

             NHÓM

        Tần số

PCT

P

 Nhiễm khuẩn cục bộ

            89

2,8 ± 11,7

0,001 *

Nhiễm khuẩn huyết

            74

16,5 ± 25,8

* Kiểm định Kruskal-Wallis Test (do biến không có phân phối chuẩn, phương sai không đồng nhất).

Nồng độ PCT ở nhóm nhiễm khuẩn cục bộ thấp hơn nhóm nhiễm khuẩn khuyết lần lượt 2,8 ng/ml và 16,5 ng/ml với (p<0,001).

2.2. Nồng độ PCT sau điều trị KS 3 ngày ở 2 nhóm nghiên cứu nhiễm khuẩn cục bộ và nhiễm khuẩn huyết: 

             NHÓM

        Tần số

PCT

P

 Nhiễm khuẩn cục bộ

            34

0,5 ± 1,7

0,001 *

Nhiễm khuẩn huyết

            60

1,1 ±  6,7

* Kiểm định Mann - Whitney test (do biến không có phân phối chuẩn, phương sai không đồng nhất).

Sau điều trị KS 3 ngày nồng độ PCT ở nhóm nhiễm khuẩn cục bộ thấp hơn nhóm nhiễm khuẩn khuyết lần lượt 0,5 ng/ml và 1,1 ng/ml với (p<0,001).

3. Sự thay đổi PCT với diễn biến lâm sàng trong bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết

3.1. Nồng độ PCT biến đổi theo thời gian (ng/ml) 

NHÓM

Tần số

PCT

P

Trước khi điều trị kháng sinh

53

20,5 ± 31,6

0,001*

Sau điều trị kháng sinh 3 ngày

53

4,1 ± 7,1

Trước ngưng kháng sinh

       53

0,2 ±  0,2

* Kiểm định Friedman (do biến không có phân phối chuẩn, phương sai không đồng nhất).

Động học PCT biến đổi giảm dần theo thời gian sau điều trị kháng sinh thích hợp và khác biệt có ý nghĩa thống kê p= 0,000.

3.2. Mối  liên quan nồng độ PCT ở nhóm BN sau điều trị KS và trước khi ngưng kháng sinh:

* Kiểm định Paired sample test (2 tailed)

NHÓM

Tần số

PCT

P

Sau diều trị khi điều trị KS 3 ngày

53

4,1 ± 7,1

0,001 *

Trước  ngưng kháng sinh

53

0,2 ± 0,2

Nồng độ PCT ở nhóm BN sau điều trị KS 3 ngày cao hơn trước khi ngưng kháng sinh lần lượt 4,19ng/ml và 0,28ng/ml với p <0,05.

IV.  BÀN LUẬN

1. Về đặc điểm nồng độ PCT ở 3 nhóm bệnh không nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn cục bộ và nhiễm khuẩn huyết:

Trong nghiên cứu này PCT ở nhóm BN không nhiễm khuẩn là 0,17ng/m, nhóm BN nhiễm khuẩn cục bộ 2,8ng/ml và nhóm BN nhiễm khuẩn huyết là 16,5ng/ml. Nghiên cứu của Wanner GA và cộng sự: Nồng độ trung bình của PCT trong nhóm nhiễm khuẩn huyết dao động khoảng 23,65 ± 21,03ng/ml, tương tự như ở khảo sát của các tác giả khác, nồng độ PCT trên nhóm bệnh nhân nhiễm khuẩn cục bộ: Tác giả Hà Tấn Đức phân tích 54 bệnh nhân nhiễm khuẩn cục bộ cho thấy trung bình của PCT (X = 3,25 ± 6,42ng/ml), nghiên cứu của chúng tôi  X = 2,8  11,7ng/ml.

2. Về mối liên quan nồng độ PCT ở 3 nhóm không nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn cục bộ và nhiễm khuẩn huyết: 

PCT ở nhóm BN không nhiễm khuẩn  là  0,17ng/ml, nhóm BN nhiễm khuẩn cục bộ  2,8ng/ml và nhóm BN nhiễm khuẩn huyết là 16,5ng/ml và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, điều này cho thấy nhiễm khuẩn càng nặng nồng độ PCT càng tăng. Kết quả này gần tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Nghiêm Tuấn về giá trị của CRP và PCT máu trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng, tác giả Hà Tấn Đức nghiên cứu về giá trị của CRP và  PCT  trên BN viêm phổi cũng cho thấy có giá trị chẩn đoán tốt tình trạng nhiễm khuẩn, Theo Balc và cộng sự, PCT có khả năng phân biệt những bệnh nhân SIRS với nhiễm khuẩn huyết với độ nhạy và độ đặc hiệu là 85% và 91%.

3. Khảo sát về nồng độ PCT biến đổi theo thời gian  (ng/ml):

Nghiên cứu này cũng chứng minh nồng độ PCT giảm theo theo thời gian sau khi điều trị kháng sinh thích hợp lần lượt PCT ở nhóm nhiễm khuẩn cục bộ 0,5  1,7 ng/ml và 1,1   6,7 ng/ml ở nhóm nhiễm khuẩn huyết và ở nhóm không nhiễm khuẩn không có điều trị KS. Nồng độ PCT không có sự khác biệt, chứng minh này cũng tương tự khảo sát của tác giả N.T. N. Thúy về biện độ giảm nồng độ PCT theo thời gian 24g.48.

Nồng độ trung bình PCT trước khi ngưng  KS: Kết quả khảo sát của chúng tôi về nồng độ trung bình PCT trước khi ngưng KS ở 2 nhóm nhiễm khuản cục bộ và nhiễm khuẩn huyết thay đổi giảm dần có ý nghĩa. NC của Lê Xuân Trường: Khảo sát 41 trường hợp NKH có đáp ứng với điều trị KS, kết quả cho thấy trung vị của PCT thay đổi như sau: 7,13ng/ml # 1,23ng/ml # 0,35ng/ml (p <0.01).

Trong nghiên cứu này động học PCT biến đổi giảm dần theo thời gian sau điều trị kháng sinh thích hợp ở nhóm nhiễm khuẩn huyết và nhiễm khuẩn cục bộ lần lượt PCT 20,5  31,6; 4,1  7,1;. và tương tự cũng chứng minh kết quả về động học của PCT theo thời gian bệnh của BN. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Castelli G.P., Claeys C., Heper Y. ghi nhận biến thiên giảm dần theo thời gian của nồng độ PCT. Điều này cho thấy động học của PCT quan trọng trong việc theo dõi diễn tiến bệnh và có đáp ứng với KS đang sử dụng hay không và chứng tỏ không chỉ nồng độ PCT cao lúc đầu mà chính là mức độ giảm PCT có liên quan đến tiên lượng bệnh nhân.

 V. KẾT LUẬN

- Nồng độ PCT trung bình ở 3 nhóm bệnh nhân không nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn cục bộ và nhiễm khuẩn huyết lần lượt là 0,17ng/ml, 2,8ng/ml, 16,5ng/ml.

- Về  mối liên quan nồng độ PCT giữa 3 nhóm bệnh lý trong nghiên cứu nhiễm khuẩn càng nặng PCT càng gia tăng có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

- Về động học của PCT với diễn biến lâm sàng nồng độ PCT giảm dần khi điều trị thích hợp nên có ý nghĩa trong theo dõi điều trị bệnh.

VI. KIẾN NGHỊ

- PCT với những giá trị vượt trội như trên đã chứng tỏ là một công cụ đáng tin cậy để chẩn đoán nhiễm khuẩn đặc biệt là nhiễm khuẩn toàn thân và phân biệt được với nhóm  không nhiễm khuẩn.

- Kết hợp với các dữ liệu lâm sàng là phương tiện theo dõi hiệu quả diễn biến bệnh lý nhiễm khuẩn và trị liệu kháng sinh tin cậy, qua đó làm giảm thời gian sử dụng kháng sinh, giảm hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc và quan trọng là giảm chi phí điều trị.

Bs.CKII Nguyễn Ngọc Thanh Quyên và Cộng sự
Bệnh viện ĐK Thống Nhất 

 

Bài viết liên quan