Logo
Header

Email: t4gdongnai@gmail.com

Đề kháng kháng sinh và kết quả tiệt trừ helicobacter pylori dựa vào kháng sinh đồ ở bệnh nhân viêm dạ dày đã điều trị thất bại từ 2 lần trở lên

Cập nhật: 27.03.2017 09:05 - Lượt xem: 588

I. Đặt vấn đề

Nhiễm Helicobacter pylori (H.pylori) dẫn đến viêm dạ dày mạn, loét dạ dày - tá tràng, u MALT và là yếu tố nguy cơ gây ung thư dạ dày. Trước đây, ước chừng 50% dân số thế giới nhiễm H.pylori, tuy nhiên tỷ lệ này đã thay đổi trong nhiều thập kỷ qua, chiếm khoảng một phần ba dân số người lớn ở Bắc Âu và Bắc Mỹ; trong khi những khu vực khác của Châu Âu, Nam Mỹ và Châu Á tỷ lệ này khoảng 50%. Ở nước ta, nghiên cứu tại Huế năm 2003 cho thấy tỷ lệ nhiễm H.pylori trên bệnh nhân viêm dạ dày mạn khá cao 69,2%. Phác đồ ba thuốc chuẩn kinh nghiệm đã được sử dụng điều trị tiệt trừ H.pylori với hiệu quả cao trong một thời gian dài, gần đây đã giảm <70% ở nhiều vùng trên thế giới và nguyên nhân chủ yếu là do H.pylori đề kháng kháng sinh. Đồng thuận Maastricht IV, năm 2012 hướng dẫn chọn phác đồ điều trị lần đầu tùy vào khu vực có tỷ lệ H.pylori đề kháng CLR cao hay thấp so với 20% và lần thứ hai chủ yếu dựa vào LFX. Với bệnh nhân sau thất bại lần 2, điều trị lần 3 nên dựa vào tính nhạy cảm kháng sinh. Hiện nay, bệnh nhân sau 2 lần điều trị thất bại trở lên còn ít được nghiên cứu về H.pylori đề kháng kháng sinh và chưa có nghiên cứu nào về hiệu quả điều trị H.pylori dựa vào nuôi cấy-kháng sinh đồ, nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này để đánh giá tình hình H.pylori đề kháng kháng sinh và áp dụng kết quả kháng sinh đồ để điều trị cho bệnh nhân nhằm:

1- Xác định tỷ lệ chủng H.pylori đề kháng với Amoxicillin, Clarithromycin, Levofloxacin, Metronidazole và Tetracycline bằng phương pháp Etest ở bệnh nhân viêm dạ dày có tiền sử điều trị tiệt trừ thất bại từ 2 lần trở lên.

2- Đánh giá hiệu quả điều trị tiệt trừ H.pylori dựa vào kháng sinh đồ theo thiết kế nghiên cứu và theo ý định điều trị.

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1) Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân >17 tuổi đến khám tại bệnh viện đa khoa Thống Nhất, từ tháng 05/2014 đến 05/2015, thất bại ít nhất 2 phác đồ điều trị tiệt trừ H.pylori, được chẩn đoán viêm dạ dày bằng nội soi và xác định vẫn còn nhiễm H.pylori với CLO test (+). Bệnh nhân “thất bại với điều trị” là những người được điều trị tối thiểu với phác đồ 3 thuốc và thời gian dùng thuốc >7 ngày.

Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có dùng kháng sinh <4 tuần hoặc dùng kháng tiết và Bismuth <2 tuần trước khi nội soi; hoặc đang có thai, đang cho con bú; có bệnh gan- tim- thận nặng đang điều trị; dị ứng với các thuốc điều trị.

2) Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: Tiền cứu, mô tả cắt ngang, can thiệp

Lấy mẫu mô xét nghiệm: Bệnh nhân được nội soi dạ dày và lấy 2 mẫu sinh thiết: mẫu 1 lấy ở thân vị cho vào bảo quản trong lọ NaCl 0,9%; mẫu 2 lấy ở hang vị làm xét nghiệm CLO test, nếu kết quả CLO test (+) trong vòng 1 giờ thì lấy mẫu bệnh phẩm này cho vào lọ NaCl đã có mẫu thân vị ở trên để nuôi cấy. 

Phương pháp nuôi cấy: mẫu mô được nghiền trong NaCl 0,9% và cấy trên đĩa Columbia agar có bổ sung máu ngựa, sau đó được đặt vào môi trường vi ái khí, ủ ở nhiệt độ 370C, đọc kết quả từ ngày thứ 3-10. Khi xác định vi khuẩn phân lập được là H.pylori, lấy khuẩn lạc làm kháng sinh đồ. 

Phương pháp làm kháng sinh đồ: Khuẩn lạc được pha thành huyền phù McFarland 3, cấy vào đĩa Muller-Hilton agar giàu dinh dưỡng với máu ngựa và kháng sinh chọn lọc, để khô và đặt que kháng sinh Etest vào, ủ trong  môi trường vi ái khí, 370C và đọc Etest sau 3 ngày. Kết quả MIC của kháng sinh là trị số trên que Etest, tương ứng với đỉnh của vòng elip vô khuẩn giao với que Etest. Chủng H.pylori đề kháng với CLR khi MIC ≥1 µg/ml; với LFX, MTZ  khi MIC >1, ≥8 µg/ml; với AMX, TET khi MIC ≥1 và ≥2 µg/ml tương ứng. 
Quy trình nuôi cấy và làm kháng sinh đồ được tiến hành tại khoa Vi sinh, Bệnh viện đa khoa Thống Nhất Đồng Nai.

Điều trị: Bệnh nhân được dùng 2 kháng sinh nhạy cảm + Bismuth tripotassium dicitrate (v/300mg, 2 viên x 2 lần/ngày) + PPI liều chuẩn (1v x 2 lần/ngày), trong 14 ngày.

Đánh giá hiệu quả điều trị tiệt trừ H.pylori: Điều trị tiệt trừ thành công khi ít nhất một trong ba thử nghiệm: CLO test, test thở ure, test kháng nguyên phân có kết quả âm tính sau kết thúc đợt điều trị từ 4-8 tuần. 

3) Phương pháp thống kê

Số liệu thu thập được xử lý bằng Stata 11. Dùng phép kiểm ÷2 hoặc Fisher’s để so sánh 2 tỷ lệ. Bệnh nhân đã dùng ít nhất một liều thuốc nghiên cứu và thu thập được thông tin sau 14 ngày điều trị được phân tích theo ý định điều trị cải biên (mITT). Bệnh nhân dùng thuốc đúng và khám theo hẹn được phân tích theo thiết kế nghiên cứu (PP). Dùng hồi quy logistic để tính OR với các yếu tố liên quan. Phép kiểm có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

4) Y đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu không vi phạm y đức và mang lại lợi ích cho người bệnh. 

III. Kết quả nghiên cứu

1) Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu:

62 bệnh nhân đã điều trị tiệt trừ H.pylori thất bại từ 2 lần trở lên, từ tháng 05/2014 đến 05/2015 được đưa vào nghiên cứu, với đặc điểm như bảng 1.

Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm

Số lượng (n, %)

Số bệnh nhân

62

Tuổi

44,3±12,8, (thấp nhất 17, cao nhất 70)

Nhóm tuổi <40

28 (45,2%)

≥40

34 (54,8%)

Giới Nam

18 (29,0%)

Nữ

44 (71,0%)

- Giới nữ nhiều hơn nam, tỷ lệ nữ/nam 2,4/1. 

- Các phác đồ thường được sử dụng cho bệnh nhân lần 1: PPI+AMX+CLR, lần 2: PPI+AMX+LFX; ít dùng hơn là phác đồ đồng thời và bốn thuốc có Bismuth, thời gian 10 hoặc 14 ngày.

2) Pha 1 của nghiên cứu- đánh giá H.pylori đề kháng kháng sinh:

Bệnh phẩm niêm mạc dạ dày của bệnh nhân được nuôi cấy, làm kháng sinh đồ và phân tích đề kháng kháng sinh như bảng 2. Tất cả các bệnh nhân sau 2 lần điều trị thất bại đều có chủng H.pylori đề kháng với ít nhất 1 trong 5 loại kháng sinh thường dùng để tiệt trừ H.pylori. Tỷ lệ H.pylori kháng với 1 loại kháng sinh, từ cao đến thấp lần lượt là: MTZ 86,2%, CLR 76,4%, LFX 66,1%, AMX 7,6% và TET 1,7%. Tỷ lệ chủng H.pylori kháng với 2, 3, 4 và 5 loại kháng sinh là: 30,6- 35,5- 4,8- 0%. Trong đó tỷ lệ đề kháng kép CLR+MTZ và CLR+LFX rất cao 67,2 và 54,8%. Tỷ lệ đề kháng 3 kháng sinh CLR+LFX+MTZ cao đến 44,6%.

Bảng 2: Đặc điểm kháng sinh đồ các chủng H.pylori (n= 62)

Chủng H.pylori

n

Tỷ lệ %

95% CI

Nhạy với cả 5 loại kháng sinh

0/62

0

-

Nhạy với 2 loại kháng sinh

-

-

-

AMX+TET

48/53

90,6

 

LFX+TET

19/60

31,7

 

AMX+LFX

14/53

26,4

 

AMX+CLR

12/53

22,6

 

CLR+TET

12/60

20,0

 

AMX+MTZ

8/51

15,7

 

MTZ+TET

8/58

13,8

 

CLR+LFX

7/62

11,3

 

CLR+MTZ

1/58

1,7

 

LFX +MTZ

1/58

1,7

 

Kháng chỉ 1 loại kháng sinh

7/62

11,1

4,7-21,9

MTZ

50/58

86,2

74,6-93,9

CLR

48/62

77,4

65,0-87,1

LFX

41/62

66,1

53,0-77,7

AMX

4/53

7,6

2,1-18,2

TET

1/60

1,7

0,1-8,9

Kháng 2 loại kháng sinh

19/62

30,6

19,6-43,7

CLR+MTZ

39/58

67,2

53,7-79,0

CLR+LFX

34/62

54,8

41,7-67,5

Kháng 3 loại kháng sinh

22/62

35,5

23,7-48,7

CLR+LFX+MTZ

27/58

46,6

33,3-60,1

Kháng 4 loại kháng sinh

3/62

4,8

1,0-13,5

Kháng 5 loại kháng sinh

0/62

0

-

- Tỷ lệ chủng H.pylori nhạy với cả 2 loại kháng sinh đều thấp <33% (bảng 2), riêng với CLR+MTZ và LFX+MTZ có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 1,7%; ngược lại tỷ lệ chủng H.pylori nhạy với AMX+TET rất cao 90,6%.

* Các yếu tố liên quan đến H. pylori đề kháng kháng sinh: Trong các kháng sinh thường dùng, ta xét 3 kháng sinh có tỷ lệ đề kháng cao với một số yếu tố liên quan như bảng 3.

Bảng 3: H.pylori đề kháng với CLR, LFX, MTZ và các yếu tố liên quan 

Biến

số

Kháng CLR

Kháng LFX

Kháng MTZ

Tỷ lệ

%

OR(95%CI)

p

Tỷ lệ

%

OR(95%CI)

p

Tỷ lệ

%

OR(95%CI)

p

Nữ

Nam

72,7

88,9

1

3,0(0,6-15,0)

>

0,05

75,0

44,4

1

0,3(0,1-0,8)

0,03

85,7

87,5

1

1,1(0,2-6,5)

>

0,05

Tuổi

<40

40

78,6

76,5

1

0,9(0,3-2,9)

>

0,05

60,7

70,1

1

1,6(0,5-4,5)

>

0,05

88,5

84,4

1

0,7(0,2-3,3)

>

0,05

Khi đánh giá mối liên quan H.pylori đề kháng với CLR, LFX, MTZ với giới và nhóm tuổi (bảng 3), nhận thấy tỷ lệ đề kháng của H.pylori với CLR ở nam cao hơn nữ rõ rệt, 88,9% so với 72,7% ( p>0,05); nhóm tuổi không có mối liên quan với đề kháng kháng sinh của H.pylori; đề kháng LFX ở nữ cao hơn nam 75,0% so với 44,4%, OR=0,3 (95%CI 0,1-0,8), có ư nghĩa thống kê p= 0,03. 

3)  Pha 2 của nghiên cứu- áp dụng kháng sinh đồ điều trị tiệt trừ H.pylori:

- Trong 55 bệnh nhân được điều trị tiệt trừ H.pylori dựa vào kháng sinh đồ có 3 bệnh nhân bị loại do không có thông tin dùng thuốc và không tái khám sau 14 ngày, nên còn 52 bệnh nhân được phân tích mITT . 

- Trong 52 bệnh nhân trên chỉ 47 bệnh nhân được phân tích PP, do 5 bệnh nhân (5/52= 9,6%) không theo thiết kế nghiên cứu (2 bệnh nhân mất theo dõi; 1 bệnh nhân không giảm triệu chứng nên xin rút khỏi nghiên cứu; 2 bệnh nhân đã dùng kháng sinh trong thời gian chờ 4-8 tuần). Không ghi nhận tác dụng phụ nào đáng kể buộc bệnh nhân phải ngưng dùng thuốc.

- Tỷ lệ tiệt trừ H.pylori thành công với phân tích theo ý định điều trị cải biên (mITT): 36/52= 69,2% (95%CI 54,9-81,3).

- Tỷ lệ tiệt trừ H.pylori thành công với phân tích theo thiết kế nghiên cứu (PP): 36/47= 76,6% (95%CI 62,0-87,7).

* Các yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị tiệt trừ H.pylori:

Bảng 4: Tỷ lệ tiệt trừ H.pylori theo phân tích mITT, PP và các yếu tố liên quan

Biến

số

Chỉ

số

Hiệu quả điều trị tiệt trừ H.pylori

mITT

PP

Số

 lượng

(n)

Tỷ lệ

(%)

95%CI

p

Số

lượng

(n)

Tỷ lệ

(%)

95%CI

p

Giới

Nam

   7/13

53,9

2,1-80,8

>

0,05

7/11

63,6

30,8-89,1

>

0,05

Nữ

29/39

74,4

57,9-87,0

29/36

80,6

64,0-91,8

Nhóm tuổi

<40

12/22

59,1

32,2-75,6

>

0,05

13/18

72,2

46,5-90,3

>

0,05

40

23/30

76,7

57,7-90,1

23/29

79,3

60,3-92,0

Số

kháng sinh

bị kháng

1

5/7

71,4

29,0-96,3

>

0,05

5/7

71,4

29,0-96,3

>

0,05

Tỷ lệ tiệt trừ H.pylori thành công khi phân tích theo mITT đạt được ở nữ 74,4% cao hơn nam 53,9%; ở nhóm tuổi ≥40 (76,7%) cao hơn nhóm <40 tuổi (59,1%), nhưng chưa có ý nghĩa thống kê. Tương tự, tỷ lệ tiệt trừ H.pylori thành công khi phân tích theo PP ở nữ (80,6%) cũng cao hơn nam (63,6%); ở nhóm tuổi #40 (79,3%) cao hơn nhóm <40 tuổi (72,2%), p>0,05 (bảng 4). Tỷ lệ tiệt trừ H.pylori thành công theo phân tích mITT và PP cũng không khác biệt  giữa các chủng H.pylori đề kháng với 1, 2 hay 3 loại kháng sinh.

IV. Bàn luận

- Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu này là 44,3±12,8 tuổi (17-70), giống Cammarota tuổi dao động 47±25 tuổi [22]; khác Romano, tuổi dao động 44-68 tuổi. Về giới, nữ nhiều hơn nam, tỷ lệ nữ/nam=2,5/1, giống Cammarota nữ nhiều hơn nam (51/43), khác Romano, nam nhiều hơn nữ (56/48=1,2/1). Sự tương đồng của chúng tôi với Cammarota có lẽ là do đối tượng nghiên cứu đều qua 2 lần tiệt trừ thất bại; khác Romano do đối tượng thu thập từ bệnh nhân chỉ thất bại sau 1 lần điều trị. 

- Tỷ lệ chủng H.pylori đề kháng với một loại kháng sinh của chúng tôi cao nhất là MTZ 86,2%, sau đó là CLR: 77,4% - LFX: 66,1%, đến thấp nhất là AMX: 7,6% và TET: 1,7%. Tỷ lệ H.pylori đề kháng với CLR khá tương đồng với Đinh Cao Minh: Sau thất bại lần hai là 66,7 và thất bại hơn 3 lần là 83,3%; tuy nhiên tỷ lệ kháng LFX và MTZ lại cao hơn nhiều, 66,1 và 86,2% so với 23,5 và 60%. Ngược lại, tỷ lệ H.pylori của chúng tôi đề kháng AMX và TET khá thấp, chỉ 7,6 và 1,7% so với 16,7 và 30% của Đ.C.Minh. Kết quả khác biệt này có thể là do sự khác nhau về dân số nghiên cứu và phương pháp làm kháng sinh đồ. Tỷ lệ H.pylori kháng với AMX thấp và MTZ cao của chúng tôi là phù hợp Phan Trung Nam 1,8% và 67,9%, Cammarota 0% và 100%, Heep tỷ lệ đề kháng với MTZ, CLR,

Ciprofloxacin, AMX và Doxycycline lần lượt là 75%, 58%, 9%, 0% và 0% và của Romano MTZ, CLR, LFX, AMX và TET lần lượt là 41,3%, 45,8%, 14,6%, 3,1% và 2%. Tỷ lệ đề kháng 3 và 4 loại kháng sinh của chúng tôi 35,5 và 4,8%, tương tự tỷ lệ đề kháng thứ phát của P.T.Nam 23,1 và 7,7%.

- Tỷ lệ bệnh nhân đề kháng cùng lúc với hai và ba loại kháng sinh khá cao: 30,6% và 35,5%. Bệnh nhân tiệt trừ H.pylori thất bại từ 2 lần trở lên có tỷ lệ chủng H.pylori đề kháng rất cao với CLR 77,4%, với LFX 66,1% và kháng kép với CLR+LFX 54,8%. Điều này cho phép dự đoán các kháng sinh này không còn hiệu quả trong phác đồ lần ba theo kinh nghiệm và chỉ nên dùng khi có bằng chứng nhạy cảm. Đề kháng với 4 loại kháng sinh thấp 4,8% và không có bệnh nhân nào đề kháng tất cả 5 kháng sinh.

- Khi phân tích theo cặp kháng sinh mà H.pylori còn nhạy cảm, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ chủng H.pylori nhạy với CLR+MTZ và LFX+MTZ rất thấp, chỉ 1,7%; ngược lại, nhạy với AMX+TET có tỷ lệ  rất cao 90,6%. Kết quả này có thể giúp cho dự đoán chọn thuốc trong phác đồ kinh nghiệm lần 3 ở nơi không có điều kiện nuôi cấy và làm kháng sinh đồ.  

- Dùng phác đồ dựa vào kháng sinh đồ để điều trị tiệt trừ H.pylori cho bệnh nhân đã thất bại từ 2 lần trở lên, chúng tôi đạt được tỷ lệ thành công theo ý định điều trị cải biên và theo thiết kế nghiên cứu lần lượt là: 69,2 và 76,6%. Đây là kết quả đáng khích lệ trong tình hình H.pylori đề kháng kháng sinh đang ngày càng gia tăng và khi so sánh với các nghiên cứu khác, như bảng 5. 

Bảng 5: So sánh các nghiên cứu điều trị tiệt trừ H.pylori dựa vào kháng sinh đồ.

Tác giả, năm

Số bệnh nhân

Tỷ lệ thành công (%)

ITT

PP

Gasbarrini (2000) [7]

39

51,7

77

Gomollon (2000) [10]

31

OTBC 36/ OTBA 67

36/67

Cammarota (2004) [22]

89

91

92

Fiorini (2013) [6]

131

90

90

Chúng tôi (2015)

62

69,2

76,6

- Kết quả điều trị tiệt trừ H.pylori của chúng tôi theo mITT đạt 69,2% cao hơn Gasbarrini 51,7% và Gomollon 36 và 67%, nhưng thấp hơn của Cammarota 91% và Fiorini 90%. Kết quả điều trị tiệt trừ H.pylori theo PP đạt 76,6% tương đương Gasbarrini 77% và cao hơn Gomollon 36 và 67%, nhưng lại thấp hơn Cammarota 92% và Fiorini 90%. Lý do giải thích về tỷ lệ của chúng tôi cao hơn Gomollon là do nghiên cứu của Gomollon chỉ thực hiện kháng sinh đồ với CLR và MTZ nên khả năng chọn lựa kháng sinh ít hơn, trong khi chúng tôi làm kháng sinh đồ với cả 5 loại kháng sinh nên dễ dàng chọn 2 kháng sinh nhạy cảm và do đó khả năng thành công cao hơn. Tỷ lệ tiệt trừ của chúng tôi thấp hơn một số nghiên cứu khác một mặt là do một số bệnh nhân đã không có đủ kết quả 5 loại kháng sinh đồ, mặt khác một số bệnh nhân đã điều trị thất bại 3-7 lần. Nghiên cứu này của chúng tôi là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam công bố về hiệu quả điều trị H. pylori dựa vào kháng sinh đồ cho bệnh nhân đã tiệt trừ thất bại từ 2 lần trở lên.

- Theo Gisbert, không phải ở đâu cũng có điều kiện làm kháng sinh đồ và cũng không cần phải có kháng sinh đồ để điều trị tiếp theo cho bệnh nhân đã thất bại ≥2 lần. Có thể chọn một trong năm cách sau đây: Phác đồ 2 thuốc Amoxicillin + PPI liều cao; phác đồ 3 thuốc AMX+ Rifabutin+ PPI hoặc AMX+ LFX+ PPI; phác đồ bốn thuốc: Amoxicillin+ Tetracycline+ Bismuth+ PPI hoặc Tetracycline+ Furazolidone+ Bismuth+ PPI. Với điều kiện thực tế của nước ta hiện nay, chúng tôi chưa có kinh nghiệm với phác đồ 2 thuốc. Phác đồ 3 thuốc có Rifabutin và 4 thuốc có Furazolidone hiện không được sử dụng. Phác đồ 3 thuốc dựa vào LFX hầu hết đã được dùng cho bệnh nhân sau thất bại ít nhất 2 lần. 

Như vậy, chỉ còn một lựa chọn phác đồ 4 thuốc gồm AMX+ TET+ Bismuth+ PPI, điều này chứng tỏ sự phù hợp kết quả nghiên cứu của chúng tôi với nhận xét của Gisbert về tỷ lệ chủng H.pylori đề kháng rất thấp với AMX và TET ở đối tượng bệnh nhân này, và đây là cơ sở để chọn lựa thuốc điều trị tiếp theo nếu không làm kháng sinh đồ. Tỷ lệ tiệt trừ thành công dựa vào kháng sinh đồ của chúng tôi 69,2% tuy thấp hơn điều trị kinh nghiệm của Gisbert (2008) lần 3: 74% và lần 4: 76%, có lẽ do Gisbert đã dùng Rifabutin trong điều trị lần 3 và 4, nên tỷ lệ thành công cao hơn; nhưng cao hơn Nishizawa (2012) điều trị kinh nghiệm lần 3 bằng phác đồ 2 thuốc liều cao trong 2 tuần, gồm AMX 0,5g và Rabeprazol 10mg (cả 2 loại uống 4 lần/ ngày) tỷ lệ tiệt trừ H.pylori là 63,0 và 65,9% theo ITT và PP. 
- Khi xét yếu tố liên quan là giới và nhóm tuổi (bảng 4), chúng tôi nhận thấy giới nữ có tỷ lệ tiệt trừ thành công cao hơn nam; nhóm tuổi ≥40 cao hơn <40, cả về mITT và PP, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê, p>0,05. Không ghi nhận sự khác biệt về hiệu quả tiệt trừ ở bệnh nhân có chủng H.pylori đề kháng với 1,2 và 3 loại kháng sinh như nhận xét của Fiorini.

V. Kết luận

Ở bệnh nhân viêm dạ dày đã điều trị tiệt trừ H.pylori thất bại ≥2 lần:

- Bằng kỹ thuật Etest, chúng tôi xác định tỷ lệ chủng H.pylori đề kháng với AMX, CLR, LFX, MTZ và TET tương ứng là: 7,6 - 77,4 - 66,1 - 86,2 - 1,7%. Tỷ lệ chủng H.pylori kháng LFX ở nữ cao hơn nam 75,0% so với 44,4%, p= 0,03. Tỷ lệ bệnh nhân có chủng H.pylori kháng kép với cả CLR và LFX là 54,8%; nhạy với cả AMX lẫn TET là 90,6%.  

- Áp dụng kháng sinh đồ để điều trị tiệt trừ H. pylori cho bệnh nhân đã từng thất bại ≥2 lần đạt: tỷ lệ thành công theo mITT và PP lần lượt là: 69,2% và 76,6%. 

VI. Kiến nghị

Nên dựa vào kháng sinh đồ để điều trị tiệt trừ H.pylori cho bệnh nhân đã thất bại từ 2 lần trở lên. Ở nơi chưa có điều kiện làm kháng sinh đồ có thể xem xét khả năng áp dụng phác đồ bốn thuốc có bismuth cùng với AMX và TET.

Ths Bs. Đặng Ngọc Quý Huệ và Cộng sự
Bệnh viện ĐK Thống Nhất Đồng Nai

Bài viết liên quan